(Kỳ II: Những khó khăn cần tháo gỡ)
Làm thế nào để mô hình này được triển khai mạnh mẽ trong cộng đồng. Câu trả lời không khó nhưng thực hiện được không đơn giản.
Ngành Điện tích cực vào cuộc
Ngay từ khi triển khai Chương trình sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2014 – 2015, EVN đã xác định ESCO sẽ là một trong 6 nội dung hoạt động trọng điểm của tập đoàn. Theo đó, EVN thí điểm mô hình Công ty dịch vụ năng lượng để đầu tư vào các dự án tiết kiệm năng lượng thông qua hình thức ESCO. Việc thí điểm sẽ được cụ thể hóa bằng dự án lắp đặt giàn nước nóng năng lượng mặt trời cho khách hàng có sản lượng điện tiêu thụ bình quân lớn hơn 20.000 kWh/tháng. Trong đó EVN sẽ đầu tư tài chính hoặc đóng vai trò trung gian kết nối giữa ESCO với khách hàng. Sau đó sẽ từng bước thành lập các công ty ESCO ở các tổng công ty điện lực trực thuộc.
Tham gia thực hiện mô hình ESCO, Công ty SolarBK phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đầu tư hệ thống giàn nước nóng năng lượng mặt trời SolarBK quy mô gia đình và quy mô công nghiệp, lợi nhuận chia sẻ theo thỏa thuận hoặc cung cấp năng lượng dài hạn theo hình thức mua bán tiện ích. Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) được EVN giao triển khai thí điểm. Đề án nghiên cứu một mô hình hoạt động của ESCO trong lĩnh vực sử dụng máy nước nóng công nghiệp cho khoảng 10 khách hàng là nhà hàng, khách sạn, nhà máy, xí nghiệp, các khu nghỉ dưỡng cao cấp tại khu vực các tỉnh phía Nam, với tổng vốn đầu tư khoảng 15 tỷ đồng. Trong đó, EVN là 12 tỷ đồng và Công ty SolarBK là 3 tỷ đồng.
Theo đó, EVNSPC đã lựa chọn đơn vị liên doanh, xây dựng quy trình phối hợp, chuẩn bị những biểu mẫu hợp đồng, tổ chức hội thảo giới thiệu về mô hình dịch vụ năng lượng. ký hợp đồng với các khách hành để triển khai chương trình theo các hình thức như: Hợp đồng chia sẻ TKNL và Hợp đồng bảo đảm mức tiết kiệm năng lượng. EVNSPC đã ký được một số hợp đồng cung cấp dịch vụ nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời tại các DN phía Nam.
Sau khi thực hiện mô hình ESCO, Công ty CP Xuất nhập khẩu thủy sản Cần Thơ (Caseamex) đã tiết kiệm mỗi năm 240.000 kWh, tương đương 390 triệu đồng, giảm 136 tấn CO2/ năm. Nhiều khách hàng sau khi triển khai áp dụng chương trình ESCO đã nhận xét, chương trình đã giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp cũng như nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Theo tính toán , DN có thể tiết kiệm ít nhất 60% chi phí nhiên liệu cho nước nóng/gia nhiệt so với sử dụng điện. Bên cạnh hiệu quả về mặt kinh tế, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường, dự án còn mang lại các hiệu quả về môi trường, xã hội như giảm phát thải khí nhà kính, tạo cơ hội việc làm, đặc biệt nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, cộng đồng trong việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Từ kết quả trên, EVNSPC tiếp tục ký hợp đồng với các khách hàng tiềm năng tại các tỉnh Cần Thơ, Vũng Tàu, Bình Dương và Đồng Tháp.
Theo kế hoạch, giai đoạn 2016 - 2020, mỗi năm EVN sẽ triển khai thực hiện tối thiểu 50 dự án ESCO (mỗi tổng công ty điện lực thực hiện tối thiểu 10 dự án). Theo đó, tất cả các khách hàng sử dụng điện đều là đối tượng thực hiện của dự án, EVN sẽ ưu tiên các dự án vừa và nhỏ có tổng đầu tư từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng. Trước mắt, EVN hỗ trợ kinh phí đầu tư, các tổng công ty điện lực lập dự án, đầu tư và quản lý đảm bảo hiệu quả. Không chỉ dừng lại ở sản phẩm máy nước nóng năng lượng mặt trời, EVN dự kiến mở rộng thêm nhiều sản phẩm đầu tư theo mô hình ESCO như pin năng lượng mặt trời, chiếu sáng, tư vấn giải pháp tiết kiệm điện khác. Thời gian tới, EVN sẽ nghiên cứu mô hình hoạt động của ESCO qua các dự án cụ thể để đề xuất kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước xem xét hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải pháp, giúp mô hình này phát triển tại Việt Nam.
Những khó khăn cần tháo gỡ
Từ những năm 1990, một số công ty ESCO đã ra đời tại Mỹ, sau đó lan rộng ra nhiều nước phát triển và gần đây là các nước trong khu vực châu Á như Trung Quốc, Thái Lan ...
Tại Việt Nam, đầu năm 2012, Công ty dịch vụ năng lượng đầu tiên ra đời (Viet Esco) trực thuộc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP. Hồ Chí Minh (ECC HCMC) với sự hỗ trợ về chuyên môn và tài chính của Chính phủ và các đối tác Nhật.
Theo các chuyên gia, việc nhân rộng mô hình ESCO sẽ giúp các doanh nghiệp giải bài toán về vốn đầu tư và giải pháp kỹ thuật để tiết giảm chi phí sản xuất, nhất là chi phí về điện. Theo các chuyên gia, chiếu sáng công cộng, tòa nhà thương mại và dịch vụ, sản xuất công nghiệp, hệ thống phân phối điện và năng lượng tái tạo là 5 lĩnh vực có thể đầu tư ESCO tại Việt Nam. Tuy nhiên, để kinh doanh ESCO hiệu quả, ngoài tiềm lực tài chính vững vàng còn phải có những chuyên gia giỏi. Bởi việc đánh giá, nghiên cứu khả thi và tính toán chính xác những lợi ích cũng như khả năng hoàn vốn của các hạng mục sẽ quyết định hiệu quả đầu tư của dự án.
Trong khi đó, bản thân mô hình ESCO vẫn còn nhiều khó khăn do còn khá mới mẻ, thông tin chưa đầy đủ trên thị trường, một số DN chưa thực sự nhận thức tốt về lợi ích từ các giải pháp TKNL mang lại. Bên cạnh đó là việc thiếu các quy định, cơ chế, nhân sự, chính sách pháp lý. Đặc biệt, việc huy động nguồn vốn để thực hiện dự án còn rất vướng vì chưa có giải pháp và chính sách cụ thể cho những mô hình này. Các ngân hàng liên kết cũng lúng túng không biết phải tiến hành thẩm định ra sao bởi chưa quen với hình thức kinh doanh TKNL nên cũng gặp một số trở ngại trong các thủ tục đầu tư, thực hiện dự án. Do đó, rất cần sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đưa ra những định chế chính sách rõ ràng để có thể thúc đẩy, nhân rộng mô hình này tại Việt Nam.
Theo EVNnews